Người miền Tây Nam bộ ai mà không biết trái bần: “Thân em như trái bần trôi/ Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?”. Lại cũng có câu “Bần cùng sinh đạo tặc”, nghĩa là nghèo mạt rệp sinh ra trộm cắp, có lẽ cây bần là thứ cây không có giá trị gì cho lắm trong đời sống người nông dân Nam bộ, nên mới có tên là bần? “Cảm thương ô dước, bời lời/ Cha sao mẹ sến, dựa nơi gốc bần” hay “Không thương em hổng có cần/ Trầm hương khó kiếm chớ đước bần thiếu chi”.
Những ngày sắp Tết Nguyên Ðán, người dân quê tôi bắt đầu đi chợ lựa mua xả pấu để dành ăn dần trong Tết cho đỡ ngán. Nghe cái tên “xả pấu” là biết món ăn này có nguồn gốc từ người Hoa rồi. Miệt Nam Kỳ lục tỉnh người Hoa sinh sống nhiều nhất là ở Bạc Liêu, vậy nên mới có câu ca: “Bạc Liêu là xứ quê mùa/ Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu,” kế tiếp là hai tỉnh Trà Vinh với Sóc Trăng. Khác nhau ở chỗ người Hoa ở Bạc Liêu phần lớn làm nghề buôn bán, làm thuốc Bắc, còn người Hoa ở Sóc Trăng, Trà Vinh lại chuyên sản xuất thức ăn kiểu Hoa cung cấp cho cả vùng này. Những món ăn Hoa nhiều người biết là xả pấu, tăng xại (một loại cải muối), tương, chao, sa tế, v.v… ngon nổi tiếng đều có nguồn gốc từ Sóc Trăng, Trà Vinh.
Tôi có người bạn cũng dân làm báo, gốc gác ở Sài Gòn. Anh kể sau ngày 30/4/1975 mấy anh chị em của anh ấy đều đi Thanh Niên Xung Phong hết. Tôi hỏi: “Dân Sài Gòn gốc biết gì về lý tưởng cộng sản, sao anh chị em nhà anh “sung” quá vậy?”. Anh này nói: “Lý tưởng con mẹ gì. Không đi để chết đói à? Nhà ai có người từ mười tám tuổi trở lên nó bắt phải đăng ký đi Thanh Niên Xung Phong nó mới phát tem phiếu cho mua gạo, chớ “xung phong” hồi nào. Ði khai hoang lao động ở trên núi rừng mấy năm, cực quá trời không chịu nổi mà vẫn đói, nên trốn về Sài Gòn hết. Ði buôn lậu từng lon gạo, từng cái tem phiếu. Ðó là khoảng thời gian đau thương, mất mát nhiều nhất trong gia đình”.
Ðã là người Việt thì không ai mà không biết con cua đồng. Trong các câu chuyện cổ tích, hễ nói đến người nghèo không ruộng đất, không tài sản, không nghề nghiệp thì nhân vật thường kiếm sống bằng cách “mò cua bắt ốc.” Cua đồng và ốc lác (ốc nhồi) bị coi là loại thức ăn kém cỏi chỉ dành cho tầng lớp nông dân, làm thuê nghèo khó.
Sinh thời, ông Ba Phi có tính hay kể chuyện tiếu lâm, mà “nhân vật chính” trong những câu chuyện tiếu lâm đó là cá, cua, rùa, rắn, cá sấu, cọp, nai, khỉ, ong, trâu, chó, heo, gà, vịt… trong bối cảnh rừng U Minh thời mới khai hoang lập ấp. Kho tàng chuyện tiếu lâm của ông, sau này được sưu tầm, biên tập lại thành một quyển sách nhan đề “Truyện Bác Ba Phi.” Dân miệt Cà Mau, ai hay nói dóc, người ta lại nói rằng: “Nó nói chuyện Ba Phi.”
Người miền Tây Nam bộ có câu hát vui rằng: “Chèo ghe bán cá lòng tong, mũi chảy lòng thòng chẳng có ai mua.” Ghe là một loại xuồng lớn, thân rộng và bầu, mũi thấp, thường dùng để vận tải lúa gạo, củi trên sông. Còn cá lòng tong thì lại nhỏ xíu bằng đầu đũa, chẳng ai lấy ghe mà chở cá lòng tong bao giờ, làm gì có nhiều cá lòng tong đến mức phải chở bằng ghe. Mũi chảy lòng thòng thì đích thị là mấy đứa con nít “thò lò mũi xanh” làm chuyện “ruồi bu kiến đậu,” hổng ai mua là đúng rồi.
Miền Tây Nam Bộ từ thời khai hoang lập ấp cách đây hơn 300 năm vốn được coi là xứ “trên cơm dưới cá,” dân tình làm chơi chơi mà ăn thiệt. Loài vật sinh sôi nảy nở tự nhiên, thứ gì cũng nhiều thiệt nhiều. Phàm con gì sống lâu, sống dai quá, người ta đồn nó khôn ngoan đến mức thành tinh (yêu tinh), nên mới có câu vè: “Muỗi kêu như sáo thổi/ Đỉa lội tợ bánh canh/ Cỏ mọc cọng thành tinh/ Rắn đồng đà biết gáy.” Rắn mà biết gáy là ý nói con rắn nó lớn, nó già như thế nào rồi.
Cách đây 20 năm, tôi theo đứa em bà con chú bác về quê miệt Cà Mau chơi. Thấy nhà nó sáng sớm đã nấu nồi cơm bự tổ bố trên bếp rồi ủ tro nóng để đó. Nó lấy cái giỏ tre đeo lên lưng, bước ra cửa vừa đi vừa nói: “Chế ở nhà coi chừng nhà. Tui đi kiếm món gì về ăn cơm.” Tôi nhìn quanh thấy nhà nó đâu có món gì quý giá phải “coi chừng” đâu, trừ ba bốn con chó vàng, chó đen ngồi chồm hổm trước hàng ba. Tôi hỏi nó: “Kiếm ở đâu dị? Tao đi với.” Nó nói: “Tui đi bắt đẻn, rắn gì cũng được, bắt được con nào xào con nấy.” Ý trời, nghe nói đẻn là phát ớn, thôi không đi nữa. Quả thật, nó đi chừng 30 phút thì trở về thảy giỏ xuống đất cái ạch, trong giỏ đã có 3-4 con đẻn bự bằng cườm tay da rằn ri trắng đen nằm cuộn quấn xà nùi với nhau. Nó lôi ra nấu nước sôi làm thịt, rồi chặt khúc kho tương ăn với chuối ghém bóp giấm đường. Nó nói: “Ở đây không có đi chợ mỗi ngày đâu. Sáng nay ăn đẻn, trưa lấy mắm chua trong khạp ra ăn đến chiều. Mai tui đi nhổ mấy cần câu cắm bắt cá lóc đem về nấu canh chua.”
Có câu chuyện tiếu lâm kể rằng: Nhà văn trẻ nọ sau khi viết xong một cuốn sách, tự cho là hay nhất thiên hạ. Anh ta muốn “giải quyết khâu oai” bèn đem đến nhờ bậc đàn anh trong văn đàn đọc và nhận xét dùm. Một thời gian sau, vẫn chưa thấy ông “đàn anh” nọ có ý kiến ý cò gì. Anh ta hỏi “đàn anh” đã đọc sách anh ta viết chưa?. “Đàn anh” trả lời: “Chưa đọc?”. Anh ta hỏi “Tại sao”?. “Đàn anh” nói: “Cần gì đọc, ngửi cũng biết”. Anh ta ngạc nhiên: “Văn mà ông cũng ngửi được à? Thế tôi hỏi ông Tam Quốc Chí có mùi gì?”. Đáp: “Tam Quốc Chí có mùi binh đao”. Lại hỏi tiếp: “Tây Sương Ký có mùi gì?”. Đáp: “Tây Sương Ký có mùi phấn sáp”. Anh ta quá tò mò, bèn nôn nóng hỏi tiếp: “Thế văn của tôi thì có mùi gì?”. Ông “đàn anh” thản nhiên đáp: “Văn của anh có mùi thum thủm”.